Nộp đơn khiếu nại cho công an tỉnh thanh hóa năm 2024

(Thanhhoa.dcs.vn): Ngày 02/8/2023, Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tỉnh đã ban hành Quy định số 02-QĐ/BCĐTU quy định về tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân gửi đến Ban Chỉ đạo. Quy định gồm 03 chương, 11 điều, quy định về nguyên tắc, thẩm quyền, trách nhiệm, nội dung, quy trình tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh liên quan đến công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi đến Ban Chỉ đạo và thành viên Ban Chỉ đạo.

Về nguyên tắc tiếp nhận, xử lý đơn, Quy định nêu 03 nguyên tắc: (1) Việc tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn phải tập trung về một đầu mối là Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo và phải tuân theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tiếp nhận, xử lý đơn thư; (2) Đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chỉ đạo, Thường trực Ban Chỉ đạo. Ban Chỉ đạo chỉ xử lý những đơn thuộc phạm vi, nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chỉ đạo theo Điều 3, Điều 5 Quy định số 67-QĐ/TW ngày 02/6/2022 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XIII); (3) Việc tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn phải bảo đảm trung thực, khách quan, khoa học, chính xác, kịp thời và bảo mật thông tin.

Thành viên Ban Chỉ đạo có trách nhiệm chuyển đơn có nội dung liên quan đến công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nhưng không thuộc thẩm quyền giải quyết của cá nhân đồng chí thành viên Ban Chỉ đạo đến Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo để đăng ký, phân loại, tham mưu xử lý. Giải quyết đơn có nội dung liên quan đến công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đủ điều kiện xử lý và thuộc thẩm quyền giải quyết của cá nhân đồng chí thành viên Ban Chỉ đạo; đồng thời báo cáo Ban Chỉ đạo, Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo kết quả giải quyết.

Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo có trách nhiệm tiếp nhận, đăng ký, theo dõi, tổng hợp, phân loại, tham mưu xử lý đơn thuộc phạm vi chỉ đạo của Ban Chỉ đạo; chủ trì, phối hợp các cơ quan liên quan nghiên cứu, đề xuất với Ban Chỉ đạo, Thường trực Ban Chỉ đạo các chủ trương, giải pháp có liên quan đến công tác chỉ đạo xử lý, giải quyết đơn của tổ chức, công dân gửi đến Ban Chỉ đạo; đôn đốc, theo dõi việc xử lý, giải quyết đơn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết.

Về thời hạn xử lý đơn, Quy định nêu rõ: Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn nhưng không thuộc thẩm quyền giải quyết, các đồng chí thành viên Ban Chỉ đạo có trách nhiệm chuyển đơn đến Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo để tham mưu xử lý. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ khi nhận đơn do Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo chuyển; cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền giải quyết phải có văn bản báo cáo Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo và thông báo bằng văn bản cho người gửi đơn biết về kết quả tiếp nhận, xử lý đơn...

Ông Hoạt khiếu nại và đề nghị UBND thành phố Thanh Hóa không truy thu tiền sử dụng đất đối với diện tích 150m2 đất ở của gia đình ông khi Nhà nước thu hồi đất và bồi thường giải phóng mặt bằng thực hiện Dự án khu dân cư phường Quảng Phú, thành phố Thanh Hoá.

Nội dung khiếu nại của ông Hoạt đã được Chủ tịch UBND thành phố Thanh Hóa giải quyết (lần đầu) tại Quyết định số 960/QĐ-UBND ngày 24/01/2024. Không đồng ý với kết quả giải quyết khiếu nại của Chủ tịch thành phố Thanh Hóa, ông tiếp tục có đơn khiếu nại đến Chủ tịch UBND tỉnh.

Kết quả xác minh cho thấy, nguồn gốc sử dụng đất của hộ ông Hoạt là đất ở, được UBND xã Quảng Phú giao đất có thu tiền sử dụng đất tháng 4/1995, với diện tích 150m2 đất ở; chưa được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hiện tại gia đình đang sử dụng ổn định.

Để thực hiện Dự án khu dân cư phường Quảng Phú, UBND thành phố Thanh Hóa đã ban hành Quyết định số 11522/QĐ-UBND ngày 11/11/2021 về việc thu hồi và được bồi thường đất của hộ ông Hoạt với diện tích 150m2 đất ở.

Thời điểm giải phóng mặt bằng, hộ ông Hoạt chưa đầu tư xây dựng công trình nhà ở (hiện trạng là đất trống), đất sử dụng ổn định và không có tranh chấp.

Theo đó, hộ ông Hoạt được phê duyệt tổng giá trị bồi thường về đất là 600.000.000 đồng.

Đồng thời, truy thu tiền sử dụng đất của hộ ông Hoạt theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP, ngày 15/5/2014 của Chính phủ.

Tuy nhiên, đến ngày 19/11/2022, UBND thành phố Thanh Hóa đã ban hành quyết định điều chỉnh căn cứ truy thu tiền sử dụng đất của hộ ông Hoạt theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 8 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP.

Yêu cầu xác định đúng căn cứ pháp luật thu hồi đất

Về việc thu tiền, giao đất cho hộ ông Hoạt, qua xác minh cho thấy, Phiếu thu nộp tiền đất ở đường Quốc lộ 47 của hộ ông Hoạt do UBND xã Quảng Phú lập, xác nhận ngày 01/01/1995 với số tiền là 7.500.000 đồng, có mẫu phiếu thu thể hiện là mẫu số C21-H (ban hành kèm theo Quyết định số 999-TC/QĐ/CĐKT ngày 02/11/1996 của Bộ Tài chính) là không phù hợp về mặt thời gian, thời điểm ban hành mẫu phiếu thu của Nhà nước. Như vậy, phiếu thu tiền 7.500.000 đồng là không đúng quy định.

Hơn nữa, lô đất giao cho hộ ông Hoạt thời điểm năm 1995 có giá là 7.500.000 đồng nhưng thực tế gia đình ông Hoạt đã nộp là 3.300.000 đồng (thể hiện tại 02 phiếu thu tiền: Phiếu thu số 15 ngày 01/01/1995 của UBND xã Quảng Phú với số tiền 3.000.000 đồng và Giấy nhận tiền được UBND xã Quảng Phú lập năm 1990 với số tiền 300.000 đồng).

Các giấy tờ chứng minh về việc đã nộp tiền cho cơ quan, tổ chức để được sử dụng đất khi xác định tiền sử dụng đất quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 8 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP, gồm: “Biên lai, phiếu thu, hóa đơn hoặc các loại giấy tờ khác chứng minh đã nộp tiền để được sử dụng đất của Ủy ban nhân dân các cấp hoặc của cơ quan, tổ chức giao đất không đúng thẩm quyền ”.

Như vậy, thửa đất ở đường Quốc lộ 47 của hộ ông Hoạt đang khiếu nại được UBND xã Quảng Phú giao năm 1995 có nguồn gốc là đất ở được giao không đúng thẩm quyền thời điểm từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004 và có giấy tờ chứng minh đã nộp tiền cho cơ quan, tổ chức để được sử dụng đất.

Mặt khác, số tiền hộ ông Hoạt đã nộp cho UBND xã là 3.300.000 đồng trên giá trị lô đất là 7.500.000 đồng. Do đó, việc thu tiền sử dụng đất của gia đình ông Hoạt được xác định thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.

Chính vì vậy, tại Quyết định số 1356/QĐ-UBND ngày 08/4/2024 về việc giải quyết khiếu nại của ông Hoạt, Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa quyết định khiếu nại của ông Hoạt là có cơ sở một phần.

Mặt khác, yêu cầu UBND thành phố Thanh Hoá căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP của Chính phủ để xác định việc nộp tiền sử dụng đất ở đối với hộ ông Hoạt khi thu hồi đất và bồi thường giải phóng mặt bằng thực hiện Dự án khu dân cư phường Quảng Phú, thành phố Thanh Hoá.

Điểm b khoản 1 Điều 8 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định:

Trường hợp sử dụng đất có nhà ở ổn định trong khoảng thời gian từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và có giấy tờ chứng minh đã nộp tiền để được sử dụng đất, thì thu tiền sử dụng đất như sau:

- Nếu giấy tờ chứng minh đã nộp tiền để được sử dụng đất thấp hơn mức thu quy định của pháp luật đất đai năm 1993 thì số tiền đã nộp được quy đổi ra tỷ lệ % diện tích đã hoàn thành việc nộp tiền sử dụng đất theo chính sách và giá đất tại thời điểm đã nộp tiền; phần diện tích đất còn lại thực hiện thu tiền sử dụng đất theo chính sách và giá đất tại thời điểm có quyết định công nhận quyền sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.